LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA
LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA
BÀI THƠ KHÔNG TỰA
Bài thơ viết năm 1996, có tựa đàng hoàng, nhưng vì lúc ấy
mới tập tành computer nên khi copy rồi paste vào mail, cái
tựa không hiểu sao biến mất.
Mấy người bạn FW bài thơ đi khắp nơi và được mọi người ưa
thích. Nhận thấy khi đọc đến cuối bài ai cũng có thể đặt tựa
cho bài thơ rất chính xác nên hôm nay, kỷ niệm bài thơ được
19 tuổi, xin gởi bài thơ (cũng vẫn không có tựa) đến bạn đọc
để cùng sống lại một giai đoạn lịch sử "không thể nào quên"
của dân tộc.
Phạm Đức Nhì
Vài tháng qua bài thơ được diễn đọc ở nhiều cuộc họp mặt,
và đặc biệt là trong video Lịch Sử Qua Chuyện Kể được thực
hiện bởi Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese
Heritage Museum) nên người yêu thơ đã đề nghị trả lại cái
tựa cũ cho bài thơ.
Hôm nay (07/ 25/2024) Bài Thơ Không Tựa đã trở thành:
LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA
Tự do như muối
hạnh phúc như đường
khi còn đang ăn đủ miếng ngọt miếng ngon
khó thấy được giá trị của hạt đường hạt muối
Tôi sống ở miền nam nhìn dòng đời trôi nổi
nở lại tàn bao nhiêu mùa hoa
hai nền Cộng Hòa
một cuộc chiến tranh dài đẫm máu
Tôi đã dốc lòng chiến đấu
bảo vệ tự do
dưới lá cờ
nền vàng ba sọc đỏ
Tiếc thay trong đội ngũ
chúng tôi có hơi ít những Ngô Quang Trưởng , Nguyễn Khoa Nam
mà lại khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn
nên lính mất niềm tin, dân chán nản
những kẻ có lòng, lắc đầu ngao ngán
Rồi nước Mỹ đồng minh
xưa là bạn
nay trở mặt lọc lừa
quên lời hứa năm xưa
bỏ mặc “tiền đồn của thế giới tự do”
thất thủ
Kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ
rồi khua chiêng gióng trống ăn mừng
Đám trí thức, sinh viên, học sinh
xưa trốn vô bưng
mơ một thiên đường trên trái đất
nay ngồi trên khán đài nghếch mặt
“Thiên đường đang ở trong tầm tay”
Má Hai
xưa đào hầm nuôi cán bộ
nay hớn hở
“Tụi nó dzià mình chắc có tương lai”
Bà Tám
con chết trận Đồng Xoài
hí hửng lãnh bằng
Gia Đình Liệt Sĩ
Những nhà soạn nhạc, nhà văn, nhà thơ,
xưa chống “cuộc chiến tranh phi lý”
(đâm sau lưng người lính Cộng Hòa)
nay chìa bút ra
xin viết bài ngợi ca chế độ mới
Đám thanh niên
xưa trốn chui trốn nhủi
ở hậu phương
xanh mặt
khi nghe nhắc tới chiến trường
nay tự nhận
đã yêu thầm cách mạng
từ lúc "trời còn chưa sáng"
Những người dân bình thường
xưa gặp lính khi ghét khi thương
lúc buồn ngồi chửi đổng
“Tao chửi cả thằng Tổng Thống
xá gì lính tráng tụi bay”
nay cũng ngập ngừng vỗ tay
nhưng mắt nhìn quanh lấm lét
họ chưa có câu trả lời dứt khoát
muốn đợi một thời gian
Sau vài năm
cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật
đã đầy nước mắt
và những tiếng nấc nghẹn ngào
Đám trí thức vô bưng năm nào
tức giận thấy mình bị bội phản
buông lời phản kháng
kẻ vô khám Chí Hòa
người bị quản thúc tại gia
đuổi gà cho vợ
thiên đường ước mơ sụp đổ
Má Hai
đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai
như người dân miền bắc
những cán bộ
xưa má nuôi trong hầm bí mật
đã ra lệnh bắt má mấy lần
má làm không đủ ăn
lấy lúa đâu đóng thuế
Bà Tám
ôm tấm bằng Gia Đình Liệt Sĩ
bụng đói meo
làng trên xóm dưới ai cũng nghèo
tình người hiếm hơn hồi đó
bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ
khóc thầm
Những văn nhân
một thời phản chiến
biện minh “ngộ biến tòng quyền”
cố o ép trái tim
“cho giống môn đồ của Lê-Nin, Kác-Mác”
Nhưng với văn thơ, với nhạc
quen phóng túng tự do
sao chịu nổi gông xiềng
lại tiếc những ngày
trời rộng thênh thang
múa bút
Đám thanh niên hèn, khoác lác
tưởng được chế độ mới tin dùng
bị đi lao động quốc phòng
thanh niên xung phong
làm việc không công
nơi rừng sâu nước độc
cháy da vàng mắt
đói lòng
Những người dân
xưa chửi vung chửi vít
nay im thin thít
chẳng dám hé môi
một số kẻ lỡ lời
bị đi “ tù không án “
Khi cán bộ xưng tụng bác Hồ
ca ngợi Đảng
họ cao giọng hoan hô
vỗ tay thật to
nhưng bụng thầm ao ước
được sống lại những ngày xưa cũ
Sau ba mươi tháng tư
đớn đau tủi hổ
là gia đình người lính Cộng Hòa
kể bị cướp nhà
người bị cướp đất
con bị đuổi học
vợ mất sở làm
chồng đi tù biệt tăm
đi họp
cán bộ mỉa mai nhiếc móc
ra đường
bị lườm dọc nguýt ngang
Đến khi ruộng vô tập đoàn
gạo vải sữa đường
bán theo tiêu chuẩn
nhà máy công ty hãng xưởng
trở thành quốc doanh
công an khu vực đầy quyền hành
thực thi chính sách nhân hộ khẩu
người dân chịu đời không thấu
mà chẳng dám than vãn kêu ca
Bấy giờ gia đình người lính Cộng Hòa
mới nhận được những tia nhìn thiện cảm
nghĩ đến con, đến chồng, đến cha
trong nhà tù cộng sản
họ hãnh diện ngẩng đầu
Hôm nay giữa trời cao
được thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ
phất phới bay trong gió
tôi muốn khóc thật to
tôi muốn hét lên
“Đây hạnh phúc ! Đây tự do!”
mà thuở nào
tôi đã buông tay đánh mất
để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất
của cuộc đời
trong các trại tù rải rác khắp nơi
trên đất nước
Họ hàng tôi, đồng bào tôi
những ai không đi được
mấy chục năm trường
gánh chịu đau thương
uất hận tủi hờn
nhìn quê hương tan nát
Mẹ Việt Nam ơi ! Những đứa con lưu lạc
đã nhận rõ lỗi lầm
đang đấu tranh âm thầm
cho một ngày quang phục
Sẽ còn nhiều khó nhọc
để dành lại giang san
từ tay bọn cộng sản tham tàn
nhưng kìa ! Phất phới bay trong gió
vẫn như ngày nào
lá cờ vàng ba sọc đỏ
mà sao hôm nay
chính nghĩa sáng ngời
chẳng cần một lời
luận bàn lý giải
Tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái
lá cờ vẫn còn đây
thì quê hương ơi ! Sẽ có một ngày!
Viết tại San Leon sau khi dự lễ dựng kỳ đài tại Houston 1996
Minh Họa Kỹ Thuật Gieo Vần
LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA
Tự do như muối
hạnh phúc như đường
khi còn đang ăn đủ miếng ngọt miếng ngon
khó thấy được giá trị của hạt đường hạt muối
Tôi sống ở miền nam
nhìn dòng đời trôi nổi
nở lại tàn bao nhiêu mùa hoa
hai nền Cộng Hòa
một cuộc chiến tranh dài đẫm máu
Tôi đã dốc lòng chiến đấu
bảo vệ tự do
dưới lá cờ
nền vàng ba sọc đỏ
Tiếc thay trong đội ngũ
chúng tôi có hơi ít những Ngô Quang Trưởng , Nguyễn Khoa Nam
mà lại khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn
nên lính mất niềm tin, dân chán nản
những kẻ có lòng lắc đầu ngao ngán
Rồi nước Mỹ đồng minh
xưa là bạn
nay trở mặt lọc lừa
quên lời hứa năm xưa
bỏ mặc “tiền đồn của thế giới tự do”
thất thủ
Kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ
rồi khua chiêng gióng trống ăn mừng
Đám trí thức, sinh viên, học sinh xưa trốn vô bưng
mơ một thiên đường trên trái đất
nay ngồi trên khán đài nghếch mặt
“Thiên đường đang ở trong tầm tay”
Má Hai
xưa đào hầm nuôi cán bộ
nay hớn hở
“Tụi nó dzià mình chắc có tương lai”
Bà Tám
con chết trận Đồng Xoài
hí hửng lãnh bằng
Gia Đình Liệt Sĩ
Những nhà soạn nhạc, nhà văn, nhà thơ, xưa chống “cuộc chiến tranh phi lý”
(đâm sau lưng người lính Cộng Hòa)
nay chìa bút ra
xin viết bài ngợi ca chế độ mới
Đám thanh niên xưa trốn chui trốn nhủi
ở hậu phương
xanh mặt khi nghe nhắc tới chiến trường
nay tự nhận đã yêu thầm cách mạng
từ lúc "trời còn chưa sáng"
Những người dân bình thường
xưa gặp lính khi ghét khi thương
lúc buồn ngồi chửi đổng
“Tao chửi cả thằng Tổng Thống
xá gì lính tráng tụi bay”
nay cũng ngập ngừng vỗ tay
nhưng mắt nhìn quanh lấm lét
họ chưa có câu trả lời dứt khoát
muốn đợi một thời gian
Sau vài năm
cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật
đã đầy nước mắt
và những tiếng nấc nghẹn ngào
Đám trí thức vô bưng năm nào
tức giận thấy mình bị bội phản
buông lời phản kháng
kẻ vô khám Chí Hòa
người bị quản thúc tại gia
đuổi gà cho vợ
thiên đường ước mơ sụp đổ
Má Hai
đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai
như người dân miền bắc
những cán bộ xưa má nuôi trong hầm bí mật
đã ra lệnh bắt má mấy lần
má làm không đủ ăn
lấy lúa đâu đóng thuế
Bà Tám
ôm tấm bằng Gia Đình Liệt Sĩ
bụng đói meo
làng trên xóm dưới ai cũng nghèo
tình người hiếm hơn hồi đó
bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ
khóc thầm
Những văn nhân
một thời phản chiến
biện minh “ngộ biến tòng quyền”
cố o ép trái tim
“cho giống môn đồ của Lê-Nin, Kác-Mác”
Nhưng với văn thơ, với nhạc
quen phóng túng tự do sao chịu nổi gông xiềng
lại tiếc những ngày trời rộng thênh thang
múa bút
Đám thanh niên hèn, khoác lác
tưởng được chế độ mới tin dùng
bị đi lao động quốc phòng
thanh niên xung phong
làm việc không công nơi rừng sâu nước độc
cháy da vàng mắt
đói lòng
Những người dân
xưa chửi vung chửi vít
nay im thin thít
chẳng dám hé môi
một số kẻ lỡ lời
bị đi “tù không án“
Khi cán bộ xưng tụng bác Hồ, ca ngợi Đảng
họ cao giọng hoan hô
vỗ tay thật to
nhưng bụng thầm ao ước được sống lại những ngày xưa cũ
Sau ba mươi tháng tư
đớn đau tủi hổ
là gia đình người lính Cộng Hòa
kể bị cướp nhà
người bị cướp đất
con bị đuổi học
vợ mất sở làm
chồng đi tù biệt tăm
đi họp cán bộ mỉa mai nhiếc móc
ra đường bị lườm dọc nguýt ngang
Đến khi ruộng vô tập đoàn
gạo vải sữa đường bán theo tiêu chuẩn
nhà máy công ty hãng xưởng
trở thành quốc doanh
công an khu vực đầy quyền hành
thực thi chính sách nhân hộ khẩu
người dân chịu đời không thấu
mà chẳng dám than vãn kêu ca
Bấy giờ gia đình người lính Cộng Hòa
mới nhận được những tia nhìn thiện cảm
nghĩ đến con, đến chồng, đến cha trong nhà tù cộng sản
họ hãnh diện ngẩng đầu
Hôm nay giữa trời cao
được thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ
phất phới bay trong gió
tôi muốn khóc thật to
tôi muốn hét lên “Đây hạnh phúc ! Đây tự do!”
mà thuở nào tôi đã buông tay đánh mất
để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất
của cuộc đời
trong các trại tù rải rác khắp nơi
trên đất nước
Họ hàng tôi, đồng bào tôi những ai không đi được
mấy chục năm trường gánh chịu đau thương
uất hận tủi hờn
nhìn quê hương tan nát
Mẹ Việt Nam ơi ! Những đứa con lưu lạc
đã nhận rõ lỗi lầm
đang đấu tranh âm thầm
cho một ngày quang phục
Sẽ còn nhiều khó nhọc
để dành lại giang san
từ tay bọn cộng sản tham tàn
nhưng kìa! Phất phới bay trong gió
vẫn như ngày nào lá cờ vàng ba sọc đỏ
mà sao hôm nay chính nghĩa sáng ngời
chẳng cần một lời
luận bàn lý giải
Tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái
lá cờ vẫn còn đây
thì quê hương ơi! Sẽ có một ngày!
KỸ THUẬT THƠ:
1/ Thơ Mới Biến Thể, nhất khí liền mạch/ Tứ thơ chảy thành
dòng.
2/ Vần: Vần chân là chính, chỗ đậm chỗ nhạt, không có quy
củ.
3/ Số chữ trong câu: Thay đổi với biên độ rộng
4/ Dòng âm điệu: Thông thoáng
5/ Nhịp điệu: Uyển chuyển, sinh động
6/ Dòng tứ thơ + dòng âm điệu
7/ Độ dài: 956 chữ
8/ Cảm xúc tầng 1 (đến từ câu chữ, biện pháp tu từ): Manh
9/ Cảm xúc tầng 2 (đến từ bố cục, thế trận): Mạnh
10/ Hồn thơ: Tùy bạn đọc
Bài Lá Cờ Chính Nghĩa rất "đắt hàng", nhất là những cuộc họp
mặt lớn, long trọng. Đã được đọc trong chương trình Lịch Sử
Qua Chuyện Kể của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt.
THE JUST CAUSE FLAG
Freedom is like salt
Happiness is like sugar
When you have big meals with good food
It’s difficult to understand the value of a grain of salt, of sugar
I live in South Viet Nam
Looking at the flow of life
Blooming and withering
How many seasons
Two Republics
A long and bloody war
I put my best in the fight
To protect freedom
Under the flag
Yellow background and three red stripes
Unfortunately in our ranks
There were so few Ngo Quang Truong, Nguyen Khoa Nam
But too many Nguyen VinhNghi, Nguyen Van Toan
To make our troops lose their faith
Our people become discouraged
People with a kind heart
Just shake their head in frustration
Then the U.S., our former ally
Now changes its stand
Forgetting its previous promises
Leaving the “advance outpost of the free world”
To its loss
The enemy put me in exile
While they shout from the housetops in celebration
The scholars, students
Who fled in the jungles in the past
Dreaming of paradise on earth
Now sit on the stage looking up
“Paradise is within reach”
Mother Hai
In the past dug secret undergrounds to feed the cadre
Now is joyous
“They are here now, I’ll have a good future”
Mrs. Tam having her son killed during the battle of Dong Xoai
Rejoices when receiving the certificate “Mother of the war hero”
The composer, the writer, the poet
During the war fought against the “unreasonable war”
(bybackstabbing the Republic of Viet Nam soldiers)
Now hold out their pens
Begging to write praising the new regime
The group of youngsters deep hiding in the past
At the rear
Turning pale face when talking about the battlefield
Now admit to “having loved in secret the revolution
Even from before dawn”
The common people
When meeting with the soldiers either like or don’t like
Sometimes curse
“I curse even the President
Not talking about you, simple soldiers”
Now clap their hands hesitantly
But their eyes do not look straight
They have not yet the definite answer
They prefer to wait a little more
After a few years
The honeymoon is over
Now full of tears
And choked with sobs
The scholars running into the jungle those years past
Become angry saying they are betrayed
Put out their protest
Some are put in the detention camp Chi Hoa
Others are in house arrest
Become good for nothing husbands
The dreamt paradise falling down
Mother Hai, now familiar with sorghum, tapioca and sweet potato
Like the people of the North
The cadre she fed them in the secret underground
Have given orders to arrest her several times
But she can’t make both ends meet
How can she have rice to pay the taxes
Mrs. Tam holding the certificate “Mother of the war hero”
With an empty stomach
From one place to the other everyone is so poor
The human feeling is rarer than before
She goes out to her son’s grave to root out the weeds
And cries in silence
The literature figures
Once anti-war
Justify “bow to circumstances”
Try to squeeze their heart
To look like the Lenin, Karl Marx disciples
But with the poems, the musical lyrics
Familiar with the free and unruly style
How can they bear the shackles
And regret the time with open skies
When they could write at will
The vile and boastful youngsters
Are accepted by the new regime
And they toil for the national defense
Or become the assault youth
Working without compensation in the deep jungles
With burned skin
And starvation
The common people
Once cursing at will
Now stay quiet as mice
They dare not open their mouth
Some who slip a word
Get “imprisoned without sentence”
When the cadre praise “uncle Ho”, the Party
They raise their voice in their cheers
Applaud loudly
But inside they wish to relive the ancient time
After April 30th, sorrowful and shameful
Are the families of the Republic of Viet Nam service-men
One gets his house taken
Another one gets his land seized
Their children get kicked out of school
Their wives lose their jobs
They, themselves, get imprisoned without trace
At the meetings, the cadre mock them ironically
In the streets they are side-long glanced at
When all the rice fields join the collectivity
Rice, sugar, fabric, milk are sold according to the criterion
Factories, companies, manufactures
Get nationalized
The local police full of authorities
Realize the policy of household registration
The common people are beyond endurance
And yet they dare not lament or complaint
Then only do the families of the Republic of Viet Nam soldiers
Get the sympathetic look
They think of their sons, their husbands, their fathers
In the communist detention camps
They feel proud and raise their heads high
Today, in the open sky
I can see the yellow flag with three red stripes
Fluttering in the wind
I want to cry aloud
I want to shout
“This is happiness! This is freedom!”
That once had disappeared from my hands
And I had to bury my most beautiful years
Of my life
In detention camps scattered all over
The country
My relatives, my people
Those who could not escape
For several tens of years
Have to bear the sorrows
Resentment and disgrace
When the country gets destroyed
Mother Viet Nam! Your children in exile
Have recognized their mistakes
And, in secret, fight
To restore you one day
There will be more difficulties
To re-conquer the fatherland
From the hands of the covetous and wicked communists
But look! Fluttering in the wind
Like the previous days
The yellow flag with three red stripes
Today shows the bright right cause
No need for words
Talking over or interpretation
I stand still, my heart elated
Our flag is still there
Oh! Fatherland! There will be someday!
Pham DucNhi
San Leon
After the ceremony of raising the flag tribune in Houston 1996
The right answer
The medical examiner
Finds very strange
Some corpses have their hearts smashed
Others get their hearts hardened
There are even corpses without hearts
The doctor in the operation room through several days
Can’t have the appropriate answer
One morning, with clear sky, sunny,
Distracted he opens the door and walks into the yard
Looking up to the sky as to ask a question
He suddenly sees on a red background
Fluttering in the wind
A yellow star